Nhân vật

Chúa Cầm Bun Phanh (1683-1763)

Trong lịch sử giữa thế kỷ XVIII ở Mường La (Thị xã Sơn La và Mường La ngày nay) nói riêng và miền Tây Bắc nói chung có một nhân vật người Thái nổi tiếng tên là Cầm Bun Phanh. Ông đã có công lớn trong việc chỉ huy quân đánh đuổi giặc cỏ Phẻ (Pong), hay Phẻ Co, Phẻ Kiền và Giẳng từ Vân Nam tràn tới giày xéo, hà hiếp nhân dân các dân tộc Tây Bắc và một phần thượng Lào.

Cha ông là Cầm Bun Pành là người đứng đầu châu Mường La dưới thời vua Lê Hi Tông (1676 – 1705) niên hiệu Chính Hoà (1680 – 1705) và chúa Định Vương Trịnh Căn (1682 – 1709). Vị chúa này Quam tô mương ghi là : “ Vua Khang vương”. Nay cần xác định là Chiêu tổ Khang vương miếu hiệu của Trịnh Căn. Đây là tôn hiệu truy tôn sau khi chúa qua đời (1709) để đem thờ ở Thái Miếu. Điều đó chứng tỏ niên đại chính thức cho hệ thống chính trị thời bấy giờ là vua không phải là chúa.

Cầm Bun Phanh sinh năm Cá Cạư [(Quý Hợi) 1683] đời vua Lê Huyền Tông – Cảnh Trị nguyên niên. Mẹ ông là bà Cầm Pành, con gái của người đứng đầu Mường Chanh – Mường Phìa ngoài thuộc châu Mường Mụa (Mai Sơn- Sơn La ngày nay).

Có lẽ với độ tuổi trên dưới 25, ông được cha cho đi làm người cai quản bản Tam theo nguyên tắc tổ chức bản mường thời phong kiến xưa: “Con nhà họ tạo được phân ruộng, con nhà nòi được phân bản lấy dịch vụ” (lụk tạo dai xáư na, lụk na dai xáư bản). Bản Tam ngày nay thuộc xã Chiềng Đen – thị xã Sơn La, tỉnh Sơn La.

Dưới thời vua Lê Dụ Tông (1706 – 1709) vào những năm niên hiệu Bảo Thái (1720 – 1729) miền Tây Bắc quê hương người Thái và nhiều dân tộc khác bị quân giặc Phẻ (Pong) Giẳng (sử  Việt Nam ghi là: bọn Nhắng, Páy) đã từ Vân Nam (Trung Quốc) vào cướp phá. Ngày nay ta đã xác định được Pẳng hay Nhắng hay Giẳng là tên người Thái gọi dân tộc Giáy; còn Phẻ (Pong) hay Phẻ Co, Phẻ Kiền chẳng thấy ở đâu gọi nữa.

Song vẫn có thể xác định được Phẻ (Póng), Giẳng đều là bộ phận người thuộc nhóm ngôn ngữ Tày – Thái. Cùng tiếng nói và nguồn gốc lịch sử với người Thái, nhưng thời đó, giặc này thật hung ác. Quam tô mương đã ghi về họ như sau:

“… Mường Muổi, Cầm Pơng đương thời làm thủ lĩnh. Có người anh em họ là Cầm Tom đã sang Lào cầu cứu đem quân về đánh đuổi. Cầm Pơng không kịp xoay sở để đánh lại nên phải chạy về nương nhờ thủ lĩnh Mường La Cầm Bun Phanh. Bun Pành đã đưa Cầm Pơng xuôi về kiện vua Bảo Thái. Nhà vua đã phái đội quân và ban ấn sắc đưa Cầm Pơng trở lại Mường Muổi và bắt ngay Cầm Tom xuôi về bỏ cũi. Sau, Cầm Tom đã đút lót quan cai ngục và thoát về chiếm lại địa vị thống trị đất mường. Cầm Pơng đành phải giữ thái độ hoà khí, bỏ ngôi vị thủ lĩnh cho Cầm Tom và xuống Mường La nương nhờ Bun Pành. Bun Pành cho Cầm Pơng đi làm tạo lộng Mường Bằng”.

“… Cầm Tom đương làm thủ lĩnh Mường Muổi. Ông tưởng yên ổn, nào có ngờ đâu người cháu con ông anh ruột mình là phìa Khuyên đã đi gọi Phẻ Co, Phẻ Kiền (Pong) ở đất Hán, đất Ngô về cướp phá bản mường. Bản mường như bị xoáy vào cơn lốc, trời mây u ám Xá chạy, Thái tan, kẻ chạy sang Lào người vào ẩn náu nơi rừng sâu. Họ hàng chẳng có người nào thoát cảnh bị Phẻ (Pong) hà hiếp…

“…Ở Mường La, Bun Pành mất. Bun Dom lên thay cha làm thủ lĩnh, giặc Phẻ Co, Phẻ Kiền ào tới. Ông cùng gia quyến không kịp chạy trốn, bị chúng bắt. Chúng ép ông phải gả con gái cho tướng Phẻ là Chảu phạ Ông Mông. Phẻ tha tội chết bắt ông phải làm cái gọi là chủ áo hồn (tạo chảu xửa)4. Mọi quyền sinh sát đều tập trung vào tay tướng giặc Phẻ là Châu Phạ Ông Mông. Nghe tin, vua Bảo Thái, vua Nhân Vương5 đã phái ông

Thiệp bí mật lên đón Bum Dom về xuôi. Phẻ bắt gia quyến Bum Dom làm tôi tớ và đưa Cầm Bun Hiêng lên thay. Thời gian gần như cho trong chốc lạt, chúng đã bắt ông cùng người chú là Cầm Bun và nhiều con cái nòi tạo khác đem giết ngay giữa mường…”.

Sau giặc Phẻ, tiếp đến giặc Giẳng cũng từ Vân Nam vào chiếm các mường thuộc vùng tả ngạn sông Thao, nay là dải đất thuộc hai tỉnh Lào Cai và Yên Bái trong đó có Mường Lò quê tổ của người Thái Đen (nay là thị xã Nghĩa Lộ và huyện Văn Chấn). Từ đó giặc tiếp tục tràn sang phái tây bắc chiếm mường Xo (Phong Thổ), Mường Lay, phía tây nam và đột nhập vào vùng giữa: Mường Tấc (Phù Yêu), Mường Xang (Mộc Châu), Mường Vạt (Yên Châu), Mường Mụa (Mai Sơn), Mường La (thị xã Sơn La và Mường La), Mường Muổi (Thuận Châu). Quân Giẳng có lực mạnh đã tiến hành  chính chiến và đồn giặc Phẻ (Pong) vào vùng lòng chảo Mường Thanh. Bản mường thời đó được miêu tả trong Quam tô mương:

“….Muốn làm phải không đựơc tìm đường đào mương, muốn xây dựng không được con nòi tạo. Chim lìa đàn kêu than, anh xa em quạnh quẽ. Anh bỏ em đi bên trái rơi vào điêu đứng; em bỏ anh đi bên phải lâm cảnh nguy nan. Thật khốn thay!… (é dệt phai báu ha đảy tang thang mương; é dệt mương báu ha đảy luk tạo. Nộc páy pưng mãn họng; pi páy nọng chaư quen. Pi tốc xại ải tốc khoa. Tộc ô!…”.

Cũng may, ở Mường La thời đó có Cầm Bun Phanh đã chạy thoát sang lộng Mường Bằng cùng với Cầm Pơng, bí mật ẩn náu trong rừng sâu. Hai tạo được người Mường Bằng che dấu, nuôi nấng. Cầm Bun Phanh là người trí dũng song toàn, quyết không để cho hai giặc cướp Phẻ, Giẳng xâu xé, tranh giành nhau trên đất tổ tiên mình. Ông có Cầm Pơng trợ thủ đắc lực đã chiêu mộ, luyện tập binh mã. Vào khoảng năm 1725 hoặc 1726, bất thần ông cùng Cầm Pơng chỉ huy quân, tiến từ cùng Nầm Pàn tới chém đầu tướng Giẳng là Nông Dịn Thong, giải phóng Mường La, Mường Muổi, Mường Mụa.

Cầm Pơng được ông cử trở lại làm thủ lĩnh và tổ chức binh mã ở Mường Muổi. Phía Mường Mụa, được biết tin Cầm Phẳn đang chạy giặc, ẩn náu ở rừng sâu ven bờ sông Mã, ông bèn cử ngay ông Quyền đương giữ chức pằn đi tìm đón trở về tiếp tục làm người đứng đầu.

Dưới sự chỉ huy chung của Bun Phanh quân của người Thái ở Muổi, La, Mụa thời đó khá mạnh. Bị thất trận tại ba mường ở trung tâm vùng Tây Bắc, quân giặc Giẳng ở khắp nơi đương hoang mang cùng quẫn.

Thừa thắng, Bun Phanh cho Cầm Pơng kéo quân tiến lên phía bắc trước tiên truy quét giặc Giẳng đóng ở châu Tiến (Chiêu Tấn) gồm: Mường Chiên (Quỳnh Nhai), Mường Khim, Mường Cang (Than Uyên), Mường Hông, Mường Tháo (Văn Bàn), Mường Xo (Phong Thổ), Mường Là (huyện Kim Bình (Vân Nam, Trung Quốc)). Sau đó lại tiếp tục  tiến sang phía đông giải phóng dải đất tả ngạn sông Thao nay thuộc tỉnh Lào Cai gồm: Mường Dọ, Mường Bo, Mường Vảy, Mường Cái, Mường Mả, Mường Sát (huyện Bát Sát), Căm Lang (Cam Đường). Bun Phành cùng Cam Pẳn hỗ trợ trực tiếp cầm quân truy quét giặc ở phía nam lần lượt giải phóng Mường Tấc (Phù Yên), Mường Xang (Mộc Châu), Mường Vạt (Yên Châu), Mường Hạ, Mường Mùn (Mai Châu), Mường Pi, Mường Sàng vùng người Mường ở Hoà Bình ngày nay. Từ đó Bun Phanh tiếp tục truy quét giặc ở Mường Pở, Mường Cảu, Mường Xằm, Mường Xon (nay thuộc tỉnh Hua Phăn (đất Lào)

Bị truy đuổi ở khắp nơi, quân Giẳng đã chạy dồn vào cánh đồng Mường Lò. Thế rồi trong một trận tập kích Bun Phanh đã chém được người chỉ huy giặc Giẳng là Lỏ Sán Sun ở Cửa Nhì (nay là lỵ sở huyện Văn Chấn), Bun Phanh bắt được nhiều tù binh Giẳng. Ông không những không chém giết, tha bổng để họ trở về Vân Nam quê cũ; mà còn cho phép trong số họ ai có gia đình, bản làng đều có thể ở lại làm ăn sinh sống, miễn từ rày trở đi không làm giặc cướp

Trong thời gian chiếm đóng, quân Giẳng đã giết hết con nòi tạo vẫn thế tập trị vì đất nước Mường Lò trong suốt các thế kỷ XI – XVIII và đốt hết sạch chữ Thái, trong đó có bộ Quam tô mương. Có lẽ vì thế mà ngày nay, ta mới không biết gì về tung tích chi dòng họ anh ruột của Lạng Chượng: Ta Đúc, Ta Đảu, Lặp Li, Lò Li, Lạng Ngang, Lạng Quang. Và cũng vì thế mà sau khi quân của Cầm Bun Phanh vào giải phóng Mường Lò khỏi tay giặc Giẳng đã không thể tìm được con tạo để làm người đứng đầu. Bun Phanh bất đắc dĩ phải cử Cầm Bun Inh – con trai em ruột mình là Cầm Bun Xôm đương thời làm phìa Mường Chai trở lại làm thủ lĩnh Mường Lò quê tổ. Cầm Bun Inh đã dẫn theo đầy đủ các bộ hạ để có thể hình thành bộ máy tổ chức một đơn vị châu mường Thái theo mẫu hình của châu Mường La thời đó (8). Họ còn đem theo cả Quam tô mương. Giờ đây có ai đã được đọc bộ sách này ở Mường Lò thì chắc khỏi ngạc nhiên vì nó giống với các bản sao từ Mường La là vậy.

Hoàn tất công việc chinh chiến xuống phía Nam, Cầm Bun Phanh rút quân về Mường La. Ông đã cho mở lễ hội Xên Cha lớn để mừng chiến thắng. Ông tổ chức lại bản mường theo thể thức thời Ta Ngần thế kỷ XIV.

Ông đã được “vua Kinh tin dùng” (Pua Keo ha). Nhà vua có lẽ là Lê Dụ Tông năm Bảo Thái thứ 6 hoặc 7 (1727 – 1728) vì theo Quam tô mương ghi là “cuối đời Bảo Thái” (9) đã ban sắc chỉ Nhất Hầu và phong tước Gia Ngãi (Nghĩa) tướng quân. Về danh nghĩa, triều đình đã cho phép Cầm Bun Phanh được cai quản một vùng rộng lớn gồm miền tả ngạn sông Hồng, nay tương đương miền tây bắc tỉnh Hoà Bình, nơi có người Mường cư trú và tỉnh Hua Phằn thuộc nước Lào ngày nay. Ông còn được “vua Lào mến phục” (Pua Lao hặc). Nhà vua ở Mường Luông Pha Băng, triều đại In Thasom (1727 – 1776) phong danh hiệu: Upsay phạkhưng  có nghĩa “đấng cao siêu – chiến thắng – tiếng tăm vang lừng”. Người Thái đương thời gọi ông là Phìa Minh. Nghĩa của Phìa ở đây là đấng không hẳn đã chỉ chức vụ. Minh là tiếng du nhập từ âm Hán – Việt, hiểu là “quang minh, chính đại”. Cương vực miền Tây bắc được vua Lê – chúa Trịnh giao cho Bun Phanh cai quản thực chất mới chỉ bằng trên dưới một nửa Ta Ngần hồi thế kỷ XIV. Bởi vì Mường Thanh (động Mãnh Thiên), Mường Lay (Phục Lễ) vẫn bị giặc Phẻ (Pong) chiếm đóng. Mường Tiêng (Lễ Tuyền), Chiêng Khem (Khiêm Châu), Mương Chúp ( Tuy Phụ), Chiêng Mi (Hợp Phì), Mung Tung (Tùng Lăng),  Mường Hoàng (Hoàng Nham) đang bị thế lực phong kiến Vân Nam xâm lấn. Tuy nhiên theo Quam tô mương, vẫn coi đây là thời kỳ Chiềng An – Mường La phát thịnh. Nếu không kể những năm tháng Cầm Bun Phanh chỉ huy quân đánh đuổi giặc Giẳng, giải phóng bản mường thì thời kỳ Chiềng An – Mường La đóng vai trung tâm (mương luông) quy tụ nhiều mường lớn, nhỏ ở miền Tây Bắc được bắt đầu từ thời vua Lê Dụ Tông cuối niên hiệu Bảo Thái (1720 – 1740). Thời gian gọi là tạm yên ổn cho  Mường La thời Bun Phanh ước khoảng trên dưới 15 năm.

Thế kỷ XVIII đất nước chìm đắm trong cảnh chia cắt đôi nửa với đường phân giới là sông Gianh. Đàng trong do các chúa Nguyễn cai trị, đàng ngoài vua Lê – chúa Trịnh thống trị. Thời kỳ này chế độ phong kiến nước ta đang suy đồi. Các cuộc khởi nghĩa nông dân gắn liền với tên tuổi của các anh hùng đứng đầu như: Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ, Nguyễn Hữu Cầu (quận He), Nguyễn Danh Phương (quận Hẻo), Lê Duy Mật, Hoàng Công Chất… bùng nổ dữ dội, đánh thẳng vào triều đình Lê – Trịnh thối nát, cuối cùng đã kết thúc bằng phong trào Tây Sơn với trận đại phá quân Thanh xâm lược và triều đại vua Quang Trung ra đời năm 1789.

Thời đại ấy chắc chắn người Việt miền ngược, miền xuôi – thiểu số, đa số không thấu lòng hợp ý nhau như bây giờ (!). Tiếp xúc với phong trào nông dân người Kinh ở miền xuôi, người Thái cũng như các dân tộc thiểu số khác đâu có thể hiểu hết ngọn ngành của đất nước. Cầm Bun Phanh là người đứng đâù cao nhất thời đó chỉ có thể biết một đường trung với triều đình quyết không để bờ cõi miền Tây Bắc do mình được phép cai quản lại trở thành một khu vực cát cứ  riêng, tách biệt khỏi Tổ quốc thống nhất. Hiểu lịch sử như thế mới thấu được trường hợp phải ứng xử đầu tiên với cuộc khởi binh của Lê Duy Mật, sau đó Hoàng Công Chất. Vào đầu thời vua Lê Hiển Tông – Cảnh Hưng nguyên niên (1740) Lê Duy Mật từ Thanh Hoá phát triển lực lượng lên Hưng Hoá.

… “Khi quân Hoàng Mật[ (Hoàng Hai) – tức Lê Duy Mật – TG] đánh chiếm mường Xang, chuẩn bị kéo quân lên Mường La. Chưa biết đầu đuôi sự thể ra sao, cụ chủ Bun Phanh đã vội đưa gia quyến, chức dịch thân cận cùng đội quân nòng cốt của mình chạy đi tìm nơi ẩn náu ở đất Mọi đất Mang (Vùng người Mường – TG) ở nơi giáp sông Thao nước đỏ, bỏ Mường La lại cho người anh của mình là Cầm Bun Yêu. Vua Hoàng Mật (Hoàng Hai) đem quân từ miền xuôi lên chiếm Mường La. Bun Yên ra hầu và được vua Hoàng Mật (Hoàng Hai) cho làm chủ Mường La”…

“… Từ đấy Mọi đất Mang nơi có sông Thao nước đỏ, Bun Phanh đã cử viên păn tên là Quyên xuôi về tâu vua Cảnh Hưng. Nhà vua cho biết đích xác là Hoàng Mật (Hoàng Hai) là người làm phản. Ba năm sa, củng cố đựơc lực lượng… Cầm Bun Phanh dẫn quân trở về Mường La. Bun Yên ra đón, trong khi vua Hoàng Mật (Hoàng Hai) đã rút binh mã sang Xốp Xan, Chiêng Cọ,  Mường Xủi,  Mường Puôn để rồi lại về  miền xuôi”…

Đây là hai đoạn trích nguyên bản Quam tô mương khác nhau. Có tập sưu tầm ở Mường La thì ghi là Cầm Bun Phanh từ đất Mọi, đất Mang đem quân về đánh đuổi Lê Duy Mật qua Thượng Lào rồi về xuôi. Và cũng có thể không ít tập lại ghi đúng như hai đoạn dẫn trên.

Theo: Cầm Trọng – Nguyễn Văn Hòa

Bình luận

error: Content is protected !!